Ngày 16-07

ĐỨC TRINH NỮ MARIA NÚI CAMÊLÔ

 Camêlô được coi như ngọn núi thánh. Hơn 700 năm trước khi Chúa Giêsu ra đời, Elia đã lên núi này để bảo vệ niềm tin của mình trong cơn bách hại, cũng như đã đào tạo những tâm hồn trung thành với Thiên Chúa. Khi Chúa Giêsu ra đời, nhiệt tình của Elia như vẫn còn cháy trong lòng các người khắc kỷ (Esseniô). Người ta nói rằng ngày lễ hiện xuống, những người này nhờ lời rao giảng và phép rửa của thánh Gioan Tẩy giả đã hợp lực với các tông đồ để truyền bá Tin Mừng.

Camêlô khi ấy vẫn còn là nơi tụ họp những tâm hồn muốn hiến thân cho Thiên Chúa. Camêlô lại chỉ cách Nazareth chừng một ngày đường, nên những người họp thành cộng đoàn ở núi này hướng về Mẹ Maria như mẫu gương sống và như nguồn ơn phù trợ. Thời thập tự quân, Camêlô là nơi đón tiếp nhiều vị ẩn tu. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ XII, Đức Thượng phụ Giáo chủ Albertô thành Giêrusalem đã qui tụ tất cả thành một nhà dòng, ban hành cho họ một qui luật được Đức giáo hoàng chuẩn y năm 1226. Cũng năm ấy, Đức Giáo hoàng cho phép mừng trọng thể trong dòng lễ Đức Bà Camêlô.

Khi lên làm bề trên nhà dòng, thánh Simon Stock đã tha thiết xin Đức Mẹ một dấu chỉ tỏ lòng săn sóc ưu ái của Mẹ đối với nhà dòng. Sau nhiều lời cầu nguyện lâu dài, ngày 16 tháng 7 năm 1251, Đức Mẹ đã hiện ra trao cho thánh nhân bộ áo dòng mà nói:

– “Hãy nhận lấy bộ áo dòng này Mẹ ban cho dòng và cho tu sĩ như dấu chỉ của lòng ưu ái và sự săn sóc Mẹ dành cho các con. Đây là dấu hiệu cứu rỗi. Giải thoát mọi hiểm nguy. Ai chết mà mang biểu hiện bình an này, sẽ khỏi bị lửa thiêu đời dời và Mẹ sẽ cứu họ khỏi lửa luyện tội vào ngày thứ bảy sau khi họ qua đời”.

Trước khi cử chỉ ưu ái này, không biết bao nhiêu người mọi thời đã xin lãnh “áo Đức bà” để được sống dưới sự chở che của Đức Mẹ. Người ta hướng về Đức Mẹ núi Camêlô như hướng về nguồn ơn phúc để tạ ơn. Vì thế lễ mừng Đức Trinh Nữ Maria núi Camêlô ngày càng lan rộng tới các nước có vua công giáo ngày 21 tháng 11 năm 1674 và năm sau tới các nước vương quốc Áo, Bồ Đào Nha mừng từ năm 1679, các nước thuộc quyền Đức giáo hoàng mừng năm 1725.

Đức giáo hoàng Bênêdictô XIII phổ biến lễ này trong toàn Giáo hội do sắc lệnh ban hành ngày 24 tháng 9 năm 1726. Ngày 15 tháng 5 năm 1892, Đức giáo hoàng Lêo XIII đã ban đặc ân “Portiuncula” (ơn đại xá cho ai viếng nhà thờ) trong lễ này.

CỦA DÂNG CHO CHA, CỦA BIẾU CHO MẸ

 Ai yêu mến cha mình thì đền bù tội lỗi.   Ai thảo kính mẹ thì như người thu được kho tàng.

Hỡi kẻ làm con, hãy gánh lấy tuổi già cha ngươi, chớ làm phiền lòng người khi người còn sống. Trí khôn người có suy giảm, con cũng hãy nể vì, đừng nhục mạ người khi con đương sức trai tráng.

  Của dâng cho cha sẽ không rơi vào quên lãng.

  Của biếu cho mẹ sẽ đền bù tội lỗi và xây dựng đức công chính.

Vào ngày bĩ cực, công việc con sẽ được nhớ đến, như băng giá khi trời tối, tội con sẽ tan đi. Người lộng ngôn, khinh cha, để mẹ là xúc phạm đến Thượng Đế, kẻ tác tạo nên họ. (Huấn ca 3,3. 12-16).

Tôi trình bày đoạn văn trên thành hai câu một, để chúng ta thấy tác giả viết như một bài thi ca, đối xứng ý và  lời. Hai câu đầu nói về con người: Ai yêu mến. Ai thảo kính.

                                                          AI   AI

                                              YÊU MẾN   THẢO KÍNH

                                                      CHA   MẸ

                                   ĐỀN BÙ TỘI LỖI   THU ĐƯỢC KHO TÀNG

Câu kế tiếp cắt nghĩa và căn dặn bổn phận làm con, cách cư xử với cha:

Hỡi kẻ làm con:

Hãy gánh lấy tuổi già cha ngươi.

Chớ làm phiền lòng người khi người còn sống.

Trí khôn người có suy giảm:

Con cũng hãy nể vì.

Đừng nhục mạ người khi con đương sức trai tráng.

Rồi lại đến lời thi ca.

Hai câu này nói về của lễ: Của dâng. Của biếu.

                                           CỦA DÂNG   CỦA BIẾU

                                             CHO CHA   CHO MẸ

             KHÔNG RƠI VÀO QUÊN LÃNG   XÂY DỰNG ĐỨC CÔNG CHÍNH

Sau hai lời thi ca lại là câu cắt nghĩa:

Vào ngày bĩ cực:

Công việc con sẽ được nhớ đến,

Như băng giá khi trời tối, tội con sẽ tan đi.

Người lộng ngôn,

Khinh cha, dể mẹ

Là xúc phạm đến Thượng Đế,

Kẻ tác tạo nên họ.

Đoạn văn viết chi tiết, phong phú về ý và ngôn từ. Đối xứng cách trình bày.

Yêu mến cha, tôi đền bù được tội lỗi.

Thảo kính mẹ, tôi thu được một kho tàng.

Sau khi căn dặn cách đối xử, tác giả hứa những phần thưởng, và sau cùng là lời trừng phạt. Ai khinh cha, dể mẹ là xúc phạm đến Thượng  Đế.

Trong đời sống, ta không dám khinh cha dể mẹ. Ta không nói lời lộng ngôn. Ta không xúc phạm đến Thượng Đế. Nhưng của lễ nào ta biếu cho mẹ, ta dâng cho cha?

Thời gian có huyền nhiệm của thời gian. Có những tháng ngày tâm hồn ta chùng xuống vì thời gian đi quá lẹ, quá xa. Nhìn lại, bất chợt ta buâng khuâng tiếc nuối. Nếu cha tôi còn sống thì… Nếu mẹ tôi còn sống thì…

Tôi viết dòng này gởi người bạn trẻ.

Ở lứa tuổi của tôi, ngày tháng không còn thong thả, không còn nhìn đời lững thững nữa. Cứ thường, người ta quý thời gian là khi người ta đã có vết thương về thời gian. Bạn còn trẻ, còn cha, còn mẹ. Tôi viết riêng cho bạn. Tôi mong bạn chưa bị thời gian để trong tâm hồn nỗi muộn màng, hối tiếc.

Bố tôi bị stroke, tai biến mạch máu não tám năm nay. Tôi về thăm, bố không còn nhận ra tôi nữa. Ông cụ bại liệt nằm đó. Mẹ tôi phải săn sóc 24/24. Là linh mục với công việc mục vụ bận rộn ở đây. Tôi không biết ngày bố chết có về được không. Công việc giúp các khoá linh thao bắt tôi làm chương trình cả năm trước. Cộng đoàn đã lên chương trình cả năm, đến ngày tĩnh tâm, nếu bố chết, làm sao tôi từ chối, bỏ chương trình của họ mà về.

Có về thì người chết cũng đã chết. Tôi không làm được gì. Bởi đó, tôi chuẩn bị tinh thần đó cho mẹ tôi. Nếu bố chết, mỗi em một phận sự lo tang lễ cho bố. Tôi nói với mẹ là tôi không về. Về cũng chẳng làm được gì. Nhiều lần tôi nói vậy. Mẹ tôi chỉ nghe. Mẹ biết tôi là linh mục, còn bao công việc chung. Mẹ im lặng.

Đêm đó, tôi ngồi nhìn ánh đèn thành phố.

Trên sân thượng của căn nhà ở đường Cách Mạng Tháng Tám, Sài Gòn.

Ngày mai lên máy bay. Không biết ngày nào mới lại về thăm mẹ. Tôi nhớ đời sống của mẹ tôi. Tôi hình dung ngày đêm, những lúc vắng các cháu, mẹ tôi quanh quẩn bên cha tôi. Căn nhà có hai ông bà. Ông nằm đó không nói. Vắng tôi. Tôi phải lên Sài Gòn qua đêm để mai ra  phi trường. Đêm sau cùng. Tâm tư của một thời thanh niên yêu Sài Gòn, với những con đường và mưa đổ bất chợt. Tâm trạng của người quay về ôn kỷ niệm xưa mà sao Sài Gòn quá xa trong tâm thức. Tôi đang ngồi một mình trên sân thượng  thì bà chủ nhà đến.

– Mai Cha đi xa rồi.

Người đàn bà ngoài sáu mươi. Bà mới mất mẹ. Bà hỏi thăm gia đình tôi. Tình trạng bệnh tật của bố tôi. Bất chợt bà hỏi:

– Có mệnh hệ nào, ông cố qua đời, Cha có về không?

Câu hỏi này chính tôi đã chuẩn bị cho tôi từ lâu. Tôi cho bà biết tôi không về. Vì công việc mục vụ tôi không thu xếp được. Bà im lặng không nói. Cái im lặng giống mẹ tôi.

Dưới đường xe cộ ồn ào. Sài Gòn vào mùa nóng, khí trời rất hanh, quá oi bức. Bụi đường và khói xe. Tôi ngồi trên sân thượng, nhìn phố xá, nhìn những con đường như lời chào của người sắp đi xa, tâm trạng không vui gì. Những khoảng trống thinh lặng. Không có câu chuyện nào tiếp nối giữa tôi và người đàn  bà đang để tang mẹ. Có lẽ tâm trạng bà cũng không vui. Tôi cắt nghĩa thêm cho bà về câu trả lời của tôi lúc nãy:

– Tôi không về, vì về cũng chẳng làm gì được. Mọi cái tôi đã chuẩn bị.

Im lặng. Vẫn cái im lặng trong tâm hồn của một người phụ nữ. Giống mẹ tôi. Sau cùng bà nói:

– Cha cho phép con khuyên Cha một điều được không?

Ngôn ngữ bà dùng ở đây rất đặc biệt. Bà nói bà muốn khuyên tôi. Tôi thưa bà là tôi sẵn sàng nghe.

– Thưa Cha, con khuyên Cha, nếu ông cố chết, Cha phải về để tang. Cha là con trưởng trong gia đình. Không phải về thì cũng chẳng làm gì được, nhưng vì mẹ Cha. Cha về cho người sống chứ không phải cho người chết. Cha nói với mẹ Cha là ngày bố chết Cha không về. Cha có biết tấm lòng người mẹ thế nào không. Con vừa mất mẹ. Mất mẹ là cái tang lớn nhất. Năm nay đã ngoài sáu mươi. Mà ngày mẹ chết con vẫn thấy bơ vơ. Con cũng là mẹ, con có kinh nghiệm cả hai, kinh nghiệm của người con mất mẹ, và kinh nghiệm của người làm mẹ. Cha nói Cha không về. Mẹ Cha kính trọng nhiệm vụ của người con linh mục. Nhưng mẹ Cha sẽ buồn. Lời nói của Cha làm mẹ Cha nghĩ rồi đến ngày bà chết, Cha cũng không về. Người mẹ nào không thương con, muốn gần con. Cha có biết Cha nói thế, mẹ Cha đang sống những ngày nghĩ đến cái chết của ông cố, Cha không về, cái chết của mình, Cha cũng không về. Nó buồn lắm. Con là người mẹ con biết tâm hồn những bà mẹ. Cha phải về để thọ tang.

Trời lúc đó mấy giờ khuya rồi, tôi không rõ. Bà nói tới đó rồi im. Dưới đường xe cộ vẫn ồn ào náo nhiệt. Trên sân thượng tôi im lặng. Phố xá dưới kia không hồn.

Tôi không ngờ trong lối suy nghĩ của tôi từ trước đến nay quá nhiều lý trí. Bấy giờ tôi mới thấy cái im lặng của mẹ tôi khi tôi căn dặn các em phải làm gì khi bố chết. Bấy giờ tôi mới hiểu cái thinh lặng của mẹ tôi khi tôi an ủi bà là tôi không về. Một sự im lặng tôi thấy đau trong tim. Người đàn bà khuyên tôi, ấp úng, nước mắt lưng tròng. Tôi cũng đưa tay dúi mắt. Tôi thương mẹ tôi quá đỗi. Tôi muốn nói với bà. Mẹ ơi, con sẽ về.

Này người bạn trẻ còn cha mẹ.

Kinh nghiệm chỉ mua bằng thời gian. Mà trẻ thì làm gì có nhiều thời gian để mua. Tôi gởi bạn những dòng này không như lời khuyên luân lý, giáo điều. Tôi muốn gởi bạn như tâm tình mà có quý bạn tôi mới viết. Tôi cám ơn người đàn bà đã khuyên tôi. Thời gian có thể làm hồn ta hạnh phúc hay mang thương tích. Chớ gì chúng ta biết lắng nghe sự huyền nhiệm của thời gian.

Trên đường đời, chúng ta phải lắng nghe những người chung quanh nhiều lắm. Trong những lắng nghe, tại sao ta không lắng nghe chính mẹ mình, lúc mẹ còn sống?

Nhiều khi mẹ nói bằng im lặng của lòng mẹ.

 Tác giả Nguyễn Tầm Thường, sj.

THẬP ĐẠI THÀNH CÔNG_08

ÁNH SÁNG ĐỊNH HƯỚNG CUỘC ĐỜI CHÚNG TA LÀ GÌ? 

Trong thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta theo ánh sáng của Hy vọng

Ánh sáng định hướng đời tôi là Hy vọng. Lời kinh phụng vụ hát: Kính chào Thánh giá là Hy vọng “độc nhất của chúng tôi” (o crux ave spes unica). Thánh giá đem lại Hy vọng vì Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào đó để cứu rỗi nhân loại, người lại Phục sinh để đưa nhân loại vào thiên đàng.

Giữa thế gian đầy tội ác, bất công, đói khổ hôm nay, Chúa Giêsu bảo chúng ta làm gì?

– Người Công giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng (ÐHV. 950).

– Yêu Chúa là yêu trần gian. Mẹ say Chúa là mẹ say trần gian. Hy vọng ở Chúa là hy vọng trần gian được cứu rỗi (ÐHV. 954).

Và Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tránh:
Thánh Phaolô hằng khuyên nhủ giáo dân đừng sống như những người không hy vọng (ÐHV. 951).
Ngài cũng phân tích cho chúng ta thấy những hạng người công giáo khác nhau, và chọn cho mình hướng đi đúng:

Có hạng “công giáo đợi chờ”, khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến.

Có hạng người “công giáo thụ động”, “trốn tránh, vô trách nhiệm”.

Họ chỉ biết “nhìn lên” đi kêu cứu, mà không biết “nhìn tới” để tiến, “nhìn quanh” để chia sẽ, gánh vác.

Niềm hy vọng đang ở giữa họ, mà họ không hay! (ÐHV. 966)

Làm một cuộc cách mạng: Ðừng đem đời người công giáo xa lìa môi trường, để quây quần quanh cái việc thiêng liêng. Ðẩy người công giáo mang niềm hy vọng của mình xâm nhập môi trường (ÐHV. 966).

– Không thể quan niệm được một Kitô hữu không mê say đem hy vọng ngập tràn thế giới (ÐHV. 972).

Ánh sáng ấy sẽ chiếu soi giúp ta vượt những thử thách,
– Con hy vọng luôn luôn, đừng chán nản vì những sự khó khăn nôi bộ, ngay trong việc tông đồ.

Như Thánh Phaolô: “Kẻ thì rao giảng Ðức Kitô vì lòng mến, bởi biết rằng tôi đã được chỉ định lo bênh đỡ Tin mừng. Kẻ thì lại giảng truyền Ðức Kitô vì ganh tị, ý định không tinh truyền, tưởng làm vậy sẽ gây thêm khổ cực cho cảnh lao tù của tôì. Cần chi! Dù sao đi nữa, bởi ý lành hay ý xấu, miễn là Ðức Kitô được rao truyền thì tôi vui mừng và tôi cứ vui mừng luôn!” (ÐHV. 976).

Và đời ta sẽ là một đời hy vọng
– Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.
Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.
Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp,
Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.
Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng
Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng (ÐHV. 978)

Hướng đến năm 2000, Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II gửi cho giới trẻ thế giới sứ điệp: Tuổi trẻ là chứng nhân của hy vọng.

Tôi xin tóm lược nội dung của cuộc sống chứng nhân, niềm hy vọng đó qua sơ đồ tóm lược sau đây, dựa vào mấy chữ đầu của tiếng La tinh SPES (= hy vọng); và tôi chuyển dịch qua tiếng Việt bằng bốn công tác dấn thân bắt đầu bằng chữ P.

S – Servire : P – Phục vụ

P – Progressione : P – Phát triển
E – Evangelisatione : P – Phúc âm
S – Sanctificatione officii : P – Phận sự

Khi chọn danh từ Hy vọng, tôi đã nghĩ đến 4 P nầy, vì nó là chương trình hành động, cho chúng ta hôm nay; thực hiện đúng, nó sẽ thành hy vọng.

Muốn rõ thêm chi tiết tư tưởng và hành động đúng một chiến sĩ, mời các bạn nghiên cứu thật kỹ hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II, có tên là Vui-mừng và Hy-vọng, mà tôi đã chọn làm khẩu hiệu và chương trình lúc tôi được chọn làm giám mục (1967).

Sau đây tôi giải thích 4 P ấy:

* Phục vụ

Công đồng Vatican II đã cho chúng ta thấy Hội thánh hôm nay phải là “một Hội thánh phục vụ” – Khiêm tốn và làm ích cho trần gian như “Men trong bột” như “Muối dưới biển” như “Ánh sáng”, rất thinh lặng, người ta cũng chẳng để ý đến nhưng không thể thiếu cho sự sống được.

Chúa Giêsu nói: “Tôi không đến để được người ta hầu hạ, nhưng để phục vụ”. Và Ngài nói tiếp để giải thích sự phục vụ của Ngài: “Cha hiến mạng sống vì người khác”.

“Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Gioan 13, 14).

Hy vọng hoàn thành nhân cách, hy vọng trở thành người Kitô hữu theo gương Chúa Kitô, hy vọng để kiến tạo một nước Việt Nam hoà bình, hạnh phúc, một giáo hội qui tụ những người con Thiên Chúa… sẽ không dựa trên ước mơ đề cao, tự phụ về mình, đoàn thể mình; không sử dụng cường lực, bắt ép; không đòi hỏi mình được tôn vinh và đặc quyền náo đó cho mình; cho cộng đồng mình…; nhưng “rửa chân cho nhau”, làm kẻ phục vụ tôn trọng, yêu thương: đó là con đường hy vọng, hằng ngày canh tân cuộc sống cá nhân, tạo bầu khí lành thánh cho xã hội và giáo hội.

  Phát triển

Ðức Giêsu bảo: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn” (Mt 14, 16).

Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa mang thân xác làm người, thức tỉnh chúng ta biết giá trị cao cả của thân xác con người chúng ta. Làm sao có thể thực hiện tình yêu thương người bên cạnh, khi có kẻ thừa thải cơm áo, tiền của dư đầy, nắm hết tiện nghi của cải và quyền lực, bên cạnh đa số người anh em lâm cảnh đói rách, bị đối xử bất công, bị tước bỏ quyền sống, quyền được tự do…

“Hãy cho họ ăn”, của ăn thân xác và tinh thần, bằng nổ lực đóng góp vào cuộc sống kinh tế, phát triển khoa học để phục vụ con người, đào sâu các giá trị văn hoá; bằng việc dấn thân tranh đấu cho công lý, hoà bình để nước Thiên Chúa là tình huynh đệ nhân loại mỗi ngày một thể hiện rõ nét hơn trên trần thế.

Hội thánh phục vụ bằng cách phát triển toàn diện con người. Trong những năm 60 thế giới bắt đầu nói rất nhiều đến “Phát triển”, Ðức Thánh cha Phaolô VI đã công bố Thông điệp “Phát triển các dân tộc” – trong đó Ngài công bố thành lập Ủy ban Giáo hoàng sau nầy trở thành Hội đồng Toà thánh Công lý và Hoà bình. Hội thánh nhằm lo cho con người sống xứng đáng địa vị làm con Chúa.

Phát triển đây không có nghĩa kinh tế mà thôi – nhưng là phát triển con người toàn diện, thể lý, trí thức, tâm linh…

Một điều quan trọng ở đây là đánh tan lối suy nghĩ sai lạc: Hội thánh chỉ lo phần linh hồn thôi, không lo phần xác. Lối suy nghĩ đó đi xa sự thật lịch sử: trở lại ngàn năm nay, đâu đó Hội thánh tổ chức trường học, viện cô nhi, dưỡng lão, trại bài phung, bệnh viện từ vườn trẻ đến đại học.v.v…

– “Phát triển là danh hiệu mới của hoà bình” (Ðức Phaolô VI).

Mặc dù giúp đỡ anh em sung sướng bao nhiêu đi nữa, nếu con để họ thành” bộ máy tự động”, con chưa làm cho họ phát triển thực sự (ÐHV. 586).

– Chấp nhận những người chỉ biết nằm, biết ngồi, chỉ muốn lẻo đẽo đi theo, muốn được giúp, được cứu, được cho, để con được làm ảnh tượng, được luôn luôn cần thiết, thực dễ vô cùng! Nhưng con hãy luyện những con người trách nhiệm, những con người muốn đứng, những con người đáng làm người (ÐHV. 592)

Thực là khó! Nhưng con phải quyết tâm giúp cho người khác:

* Biết vùng dậy.

* Biết suy tư.
* Biết tổ chức.
* Biết chiến đấu.
* Biết chống ngược ý con khi cần. Con sẽ hạnh phúc thật vì anh em cùng thăng tiến với con (ÐHV. 593).

Nói tóm lại, Hy vọng là sức mạnh thúc đẩy chúng ta làm chứng về nổ lực dấn thân phát triển con người toàn diện.

 * Phúc âm

 “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 18).

– Hội thánh phục vụ bằng cách Phúc âm hoá chính mình để rồi Phúc âm hoá xã hội. Không phải để lôi kéo người ta vào đạo, nhưng để giá trị của Phúc âm soi rọi cho chúng ta sống tốt đẹp hơn.

Văn hào B. Pascal đã nói : “Khi tôi hiểu biết Thiên Chúa thì tôi cũng đã hiểu biết chính mình tôi”. Vì sao? Vì ý Thiên Chúa dựng nên tôi làm con Ngài, cao sang tốt đẹp hơn muôn phần, và những con người khác quanh tôi cũng cao cả như vậy.

Phúc âm là Lời đem đến ơn phúc, lời từ Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Lời đó, vâng theo ý Chúa Cha, để làm một việc là yêu thương con người, và yêu thương đến độ hy sinh mạng sống mình.

Kitô hữu chúng ta không có con đường nào để chọn, nguồn sinh lực nào để múc lấy, mẫu mực nào để bắt chước, mục tiêu nào để đạt được ngoài Ðức Giêsu Kitô, được trao lại cho chúng ta qua các nội dung của Phúc âm.

Ðức Giêsu Kitô là lời làm thân xác, ở giữa chúng ta, không phải là lời nói suông nhưng là một con người, một cuộc sống.

Ra đi rao truyền Phúc âm là nghĩa vụ thiết yếu của Kitô hữu và Giáo hội, trước hết là toả lan ánh sáng yêu thương, tinh thần hy sinh, phục vụ người anh em, kể cả kẻ thù mình, như Chúa Kitô đã thực hiện.

– Con chỉ có một Nội qui: Phúc âm. Ðó là hiến pháp trên tất cả mọi hiến pháp. Là Hiến pháp Chúa Giêsu đã để lại cho các tông đồ; không khó khăn, phức tạp, gò bó như các hiến pháp. Ngược lại linh động, nhân hậu, làm phấn khởi linh hồn con.

 Một vị thánh ngoài Phúc âm là “thánh giả” (ÐHV. 986).

– Quả tim con phải rộng đủ để chức đựng và rung nhịp với tất cả chương trình Phúc âm hoá của Hội thánh (ÐHV. 331).

 Khi chiếu sáng Phúc âm chung quanh ta là ta làm tông đồ.

– “Tông đồ bằng hy sinh và thinh lặng” như hạt lúa chôn vùi, nát thối để sinh muôn ngàn hạt khác nuôi nhân loại.

 “Tông đồ bằng chứng tích”. Lời quả quyết suông không đáng người ta tin tưởng mấy, dù ngọt ngào trau chuốt đến đâu.

Tang vật đáng tin hơn

Hình ảnh chụp được, tiếng nói ghi âm được, càng dễ đánh động người ta hơn.

Nhưng chính con người sống động bằng xương thịt, nếu cả cuộc sinh hoạt, nếu cả một lớp người, một lớp gia đình cùng sống một lý tưởng, thì chứng tích ấy có một sức mạnh thuyết phục lớn lao biết chừng nào! (ÐHV. 332).

– Bí quyết công cuộc tông đồ trong thời đại ta:

Tông đồ giáo dân! (ÐHV. 335).

Thật thế, tại ngay Rôma nầy, trong ba năm qua, từng ngàn giáo dân tình nguyện làm “thừa sai đô thị”, thăm viếng, mang tặng Phúc âm đến từng gia đình trong giáo phận.

– Ðường lối của tông đồ thời đại ta:

* Ở giữa trần gian
* Không do trần gian
* Nhưng cho trần gian
* Với phương tiện của trần gian (ÐHV. 340)

* Phận sự

Mỗi người là một người con yêu quý của Thiên Chúa trong Ðức Kitô. Phẩm giá cao quí và độc đáo đó đi kèm với nghĩa vụ phải hoàn thành phận sự riêng, ơn gọi riêng của mình. Thay vì dành tất cả tài năng, sức lực để rình mò và chỉ trích việc làm của người bên cạnh, là một người anh em có những hoàn cảnh, khả năng, phận vụ riêng của người ấy, thì trước hết chúng ta mỗi người thành tâm, tích cực chu toàn trách nhiệm và phận vụ riêng của mình. Phận vụ đó muốn được thánh hoá để bắc nhịp cầu đến với người bên cạnh, thì cần thấm nhập tinh thần Ðấng Thánh của Thiên Chúa là Ðức Giêsu Kitô. Phận vụ của Ngài là yêu thương, phục vụ cho đến chết và chết trên Thánh giá.

hội thánh phục vụ bằng các phận sự trần thế. Ðây là một linh Ðạo mới. Thường ta có quan niệm người thánh là người làm các việc đạo đức, tham gia các hội đoàn… nhưng quên rằng “nên thánh là chu toàn phận sự của mình”; ông Thánh Giuse nên thánh nhờ làm thợ mộc tốt, Ðức Mẹ nên thánh nhờ làm nội trợ tốt: làm tất cả vì Chúa Giêsu. Nguyên tắc rõ ràng hơn cả

– Thánh hoá bổn phận của con. Thánh hoá người khác nhờ bổn phận của con. Thánh hoá chính mình con trong bổn phận (ÐHV. 19)

Thánh hoá bổn phận của con: tôi là nhà báo, dân biểu, học sinh, làm bếp, tôi thánh hoá công việc của tôi, thay vì chỉ làm nghề lấy tiền, tôi làm thật tốt vì yêu mến Chúa – khác nhau lắm.

Thánh hoá người khác nhờ bổn phận con: qua tờ báo tôi viết tốt, bảo vệ sự thật, đem nguồn vui đến cho nhiều người; tôi làm dân biểu, phát biểu can đảm theo lương tâm, tôi thánh hoá người khác – Thế giới nầy không khá được, đất nước không đổi mới được – Vậy thì bao nhiêu nhà báo, bao nhiêu dân biểu, trí thức công giáo, tin lành,… ở đâu? Chúng ta sống như người vô tôn giáo. Và ta đã không thánh hoá người khác nhờ bổn phận.

Thánh hoá chính mình trong bổn phận: Dĩ nhiên khi làm như vậy ta phải hy sinh, can đảm, sáng suốt và bền chí, và ta nên thánh, đâu cần phải ăn chay, đánh tội… mà những người ở xung quanh không ai chịu nổi.

– Nếu ai cũng thánh hoá bổn phận, thì tâm hồn mới, gia đình mới, thế giới mới (ÐHV. 20)

– Một vị thánh ngoài bổn phận là thánh ở xa xa thường hay “làm phép lạ” sái nơi, sái giờ. Ðến gần thì gây lộn xộn, và hoang mang khó sống (ÐHV. 21).

– Giáo dân nghĩ: Thánh là sốt sắng kinh nguyện, giảng giải, xa lánh thế gian: họ hoá ra giáo sĩ, tu sĩ thời xưa. Tu sĩ nghĩ: Thánh là dấn thân giúp việc xã hội, hoạt động chính trị, tranh đua với giáo dân mà nhập thế. Loạn xà ngầu (ÐHV. 22).

– Các thánh không nên thánh vì nói tiên tri hay làm phép lạ. Các ngài đâu làm gì lạ! Họ chỉ chu toàn bổn phận (ÐHV. 25).

Trong tinh thần hy vọng và sức mạnh Phục sinh của Chúa Kitô, thi sĩ Joseph Folliet (1903-1972) đã viết:

 Vui mừng và Hy vọng

“Cuối đường bạn đi
không còn là đường, nhưng là đích điểm lữ hành.
Cuối dốc bạn leo,
không còn là dốc, nhưng là đỉnh cao tuyệt vời.
Cuối đêm tối tăm,
không còn là đêm, nhưng là hừng đông rạng rỡ.
Cuối mùa đông giá,
không còn là đông, nhưng là mùa xuân ấm áp.
Cuối giờ bạn chết,
không còn là chết, nhưng là sự sống vĩnh hằng.
Cuối phút thất vọng,
không còn là thất vọng, nhưng là hy vọng tràn đầy.
Cuối cùng của nhân loại,
không còn là người, nhưng là Thiên Chúa làm người ở giữa chúng ta”.
Chính Ngài là vui mừng và hy vọng của chúng ta


THẬP ĐẠI THÀNH CÔNG_09

ÐỘNG LỰC NÀO GIÚP CHÚNG TA THAY ĐỔI VÀ THĂNG TIẾN XÃ HỘI TA ĐANG SỐNG?

Tinh thần đoàn kết hiệp nhất

 Nhà tư tưởng Pierre Teilhard de Chardin có nói rằng: “đăng giả hội”. Cái gì vươn lên thì sẽ gặp nhau. Chỉ khi nâng tâm hồn lên, vất bỏ đi đằng sau những cố chấp, tự mãn, tị hiềm nhỏ nhoi, thì mắt mới có khả năng nhìn về một hướng, tay có khả năng nắm chặt với nhau để cùng đi.

 Cuối thế kỷ 20, chúng ta nhìn lui lại lịch sử nhân loại, và lịch sử của dân tộc ta để thấy rằng, không phải người ta đã không hô hào tình huynh đệ đoàn kết…, nhưng những đau thương, đỗ vỡ cho con người do ngay những chủ thuyết, phong trào nầy đem lại đều phát xuất từ một điểm: Các chủ thuyết đó, chưa thấy được tầm cao cả của con người và các người dấn thân chưa nâng tâm hồn mình lên đủ.

Ðức Kitô đã cho Kitô hữu chúng ta một bí quyết về tình liên đới và đoàn kết:

Ta hình dung Chúa Giêsu như mặt trời ở giữa phát ra các tia sáng quanh cả vòng tròn, càng ra xa trung tâm, các tia ấy, có khoảng cách xa nhau hơn nữa. Nhưng nếu ta đi ngược lại càng trở về trung tâm, càng xích lại gần nhau, cho đến lúc gặp nhau ở một trung tâm điểm là Thánh tâm Chúa Giêsu.

 Tất cả đoàn kết, liên đới… đều ở xa xa cả, vì còn giữ kẽ, còn bảo vệ lợi ích của cái tôi, còn có chiến lược…

Các thánh phân biệt Tình thương tiếng Hy-lạp dùng Eros hoặc Philia, với Agapé đức Ái, là tình thương của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Gioan và Phaolô chỉ dùng danh từ Agapé khi nói đến Thiên Chúa: “Như Ðức Chúa Cha đã yêu thương Thầy, Thầy yêu thương anh em” (Gioan 15, 9).

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em” (Gioan 13, 34).

Tình thương ấy khiến cho ta hiệp nhất như lời Chúa Giêsu cầu nguyện: “Xin Cha cho chúng con nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha” (Gioan 17, 21-22). Phải có cái nhìn của Chúa Giêsu đối với mọi người.

Căn tính của người công giáo là Ðức Ái.

– Chúa chỉ bắt các tông đồ mang một đồng phục rẻ tiền mà khó kiếm:

“Người ta sẽ lấy dấu nầy mà biết các con là môn đệ Thầy: Các con thương yêu nhau (ÐHV. 748).

 Nhưng yêu thương thế nào đây?

– Có loại bác ái ồn ào : Bác ái phong thánh.

– Có loại bác ái kể công : Bác ái ngân hàng.
– Có loại bác ái nuôi người : Bác ái sở thú.
– Có loại bác ái khinh người : Bác ái chủ nhân.
– Có loại bác ái theo ý mình : Bác ái độc tài.

 Bác ái nhãn hiệu, bác ái giả hiệu (ÐHV.756).

– Bác ái không có biên giới; nếu có biên giới, không còn là bác ái nữa (ÐHV. 787).

– Hãy yêu thương nhau không bằng lời nói mà bằng việc làm. Hãy yêu thương nhau bằng tay mặt làm mà tay trái không biết.

“Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con” (ÐHV. 755)

Ðức Kitô nâng tâm hồn lên với Cha Ngài, để chỉ biết có yêu thương: Yêu tất cả, yêu từng người, yêu người thân, yêu kẻ thù, yêu người lành thánh, yêu kẻ tội lỗi. Yêu bằng hy sinh mạng sống mình cho kẻ mình yêu.

Pascal đã từng nói: “Trái tim có những lý lẽ mà trí khôn bình thường không biết được”.

Lý của trái tim xem ra điên rồ: yêu đến hy sinh mình, yêu kẻ thù mình…; nhưng nâng trái tim nầy lên, bấy giờ liên đới, đoàn kết mới có sức mạnh và ý nghĩa.

Nâng tâm hồn lên, để cảm nghiệm được rằng lý thuyết có thể khác nhau, nhưng con người luôn có cơ may đến gần và hiểu nhau trong cuộc sống.

Nâng tâm hồn lên, mới thấy có những sức mạnh bên trong, bên trên có thể hoàn cải nếp suy tư, thay đổi những cơ chế mà người ta nghĩ rằng không còn cơ may cứu vãn.

– Bác ái là nối dài tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại (ÐHV. 792)

– Con phải nói được cách thành thực rằng:

“Tôi không xem ai là kẻ nghịch của tôi, kể cả những người căm thù tôi nhất, những người bắt bớ tôi, thề không đội trời chung với tôi” (ÐHV. 793).

 Hiệp nhất, liên đới muốn thành hiện thực phải múc lấy sức mạnh cao siêu đó của bác ái.

 Ðoàn kết hiệp nhất

 “Nếu nốt nhạc bảo:

Chỉ một nốt làm sao thành nhạc được
Thì làm sao có bản hoà tấu.
Nếu lời nói bảo:
Chỉ một lời làm sao thành trang sách
thì bao giờ có những pho sách.
Nếu viên đá bảo:
Chỉ một viên đá làm sao thành vách tường
thì bao giờ có nhà ở.
Nếu một giọt nước bảo:
Chỉ một giọt nước làm sao thành sông hồ
thì bao giờ có đại dương.
Nếu hạt lúa bảo:
Chỉ một hạt thóc làm sao thành đồng lúa
thì bao giờ có cơm gạo.
Nếu con người bảo:
Chỉ một cử chỉ yêu thương
thì làm sao cứu vớt tất cả nhân loại
bao giờ có công lý và hoà bình
hạnh phúc và vui tươi trên quả đất.
Như bản hoà tấu cần đến mỗi nốt nhạc
Như pho sách cần đến mỗi lời nói
Như ngôi nhà cần đến mỗi viên đá
Như đại dương cần đến mỗi giọt nước
Như cơm bánh cần đến mỗi hạt thóc
Như thế giới cần đến mỗi con người
Thiên Chúa và anh chị em cần đến bạn,
bất cứ ở đâu, bất cứ giờ nào,
bạn là người duy nhất, Chúa cần trong giây phút ấy
và vì thế không ai thay thế được

THẬP ĐẠI THÀNH CÔNG_10

 KHI ĐÃ THỰC HIỆN ĐƯỢC CÁC ƯỚC NGUYỆN TRÊN ĐÂY, TA PHẢI LÀM GÌ?

Ta phải nhìn lên Chúa, nhìn chính mình, nhìn mọi người và mỉm cười

  Người ta có lần hỏi mẹ Tê-rê-xa: Xin Mẹ để lại cho chúng tôi một sứ điệp? – Sau một hồi suy nghĩ, Mẹ Tê-rê-xa trả lời ngắn gọn:

“Hãy luôn mỉm cười”.

 Khi mẹ Têrêxa nói đến nụ cười, mẹ muốn nói đến nụ cười có ý nghĩa thâm sâu, hạnh phúc vì được Thiên Chúa ở với mình, một nguồn vui không ai cướp được.

– Thay “nụ cười ngoại giao” của con bằng “nụ cười chân thành Kitô hữu” (ÐHV. 773).

– “Tôi không làm việc bác ái được vì tôi không có tiền!” Chỉ có tiền mới bác ái sao? – Bác ái của nụ cười, bác ái của bắt tay, bác ái của thông cảm, bác ái của thăm viếng, bác ái của cầu nguyện (ÐHV. 714).

Mẹ Tê-rê-xa mỉm cười và khuyên chúng ta mĩm cười vì Mẹ xác tín có Thiên Chúa trong cuộc sống mình, nơi tâm hồn những người chung quanh mình. Nụ cười ấy bảo chứng cho hạnh phúc của kẻ được Thiên Chúa ở cạnh mình, hoàn thành tốt đẹp đời mình, thấy được hình ảnh Thiên Chúa trên khuôn mặt anh chị em mình.

Ta nhìn lên Chúa và mỉm cười, vì Chúa là Cha đầy lòng thương xót, đã dựng nên ta, hằng tha thứ lỗi lầm và đón chờ ta về nhà Cha hạnh phúc muôn đời. Nhìn lại bản thân ta bé nhỏ, làm sao được Chúa thương vô hạn, cả cuộc đời ta đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác , làm sao Chúa chọn tôi làm con Chúa? Tôi chỉ biết cười sung sướng và hát vang “Hồng ân Thiên Chúa bao la, muôn đời con sẽ ngợi ca ơn Người”. Tôi nhìn đến mọi người mà vui cười, vì tôi biết được họ đều là anh chị em của tôi, con một cha với tôi, cùng nâng đỡ nhau, kề vai sát cánh tiến về nơi “không còn nước mắt”, không còn than khóc, vì mọi sự ấy đã qua đi. Tôi còn nhớ tiếng hát thuở bé thơ: “Nầy nầy anh em cất tiếng cười, cười mừng mộng đẹp tuổi xuân tươi, cười mừng tương lai đầy nghìn thắm, cười mừng vinh phước ở trên trời”. Ðức Hồng Y Daneels ở Bỉ đã nói: “Thách đố lớn nhất của thời đại ta là hy vọng” có nhiều người giàu có, thông thái, chức quyền, nhưng đau khổ vì không biết sau cuộc đời nầy họ sẽ đi về đâu? Họ sẽ bỏ mất tất cả! Chúng ta biết ta đi về hạnh phúc bất diệt, nên ta mỉm cười chia sẻ niềm vui với mọi người và muốn mọi người cùng được vui và khắp thế giới đều hát Allêluia.

Vì niềm vui lớn nhất là được Phục sinh với Ðức Kitô.

Nếu vợ biết mỉm cười với chồng,

Chồng mỉm cười với vợ,
Nếu mỉm cười được với kẻ thù mình,
Vui cái vui của kẻ mình không thích…
Gia đình, xã hội, quốc gia sẽ thực hiện được cửa Thiên đàng nơi trần thế.

 Không phải ta ảo tưởng, không biết đến những khổ đau chồng chất trong cuộc sống hằng ngày, nhưng như Thánh Augustinô từng nói:

“Yêu thương chẳng quản khó khăn

Gian nan cũng mến, nhọc nhằn cũng thương”.

 Hạnh phúc của thời đại ta

 1- Phúc cho ai biết nhìn mình mà cười

vì sẽ không bao giờ hết chuyện để giải trí.

 2- Phúc cho ai biết phân biệt

quả núi khác viên sỏi
vì sẽ tránh được bao nhiêu phiền hà.

 3- Phúc cho ai biết lắng nghe và lặng thinh

vì sẽ học được bao điều mới lạ.

 4- Phúc cho ai biết quan tâm

đến điều người khác yêu cầu
vì được san sẻ bao là vui tươi.

 5- Phúc cho ai biết chăm chú

đến việc bình thường
và bình tĩnh trước việc quan trọng
vì đời họ sẽ tiến lên xa.

 6- Phúc cho ai biết đánh giá một nụ cười

và bỏ qua những lời lẽ vô lễ
vì đường họ đi sẽ huy hoàng ánh sáng.

 7- Phúc cho ai biết giải thích

cách độ lượng thái độ của người khác
trái với vẻ bên ngoài
vì họ sẽ được xem là chất phát.

 8- Phúc cho ai biết suy nghĩ

trước khi hành động
và cầu nguyện trước lúc suy tư
vì họ sẽ tránh được nhiều sự ngây ngốc.

 9- Phúc đặc biệt cho ai biết

nhận thấy Chúa trong tất cả
những người mình gặp
Vì họ đã gặp chính sự sáng và sự bình an thật